Close

Tháng Một 26, 2018

Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất bia (5)

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP – CÔNG TY VBL QUẢNG NAM

SV. NGUYỄN THỊ LÊ THOA

MỤC LỤC

CHƯƠNG 7: CƠ ĐIỆN

7.1. Hệ thống điện

7.2. Hệ thống thu hồi CO2

7.3. Hệ thống lò hơi

7.4. Hệ thống xử lý nước thải

NỘI DUNG

CHƯƠNG 7: CƠ ĐIỆN

7.1. Hệ thống điện

7.1.1. Sơ đồ hệ thống lạnh

so-do-he-thong-lanh

7.1.2. Thuyết minh sơ đồ

Mục đích: Hệ thống lạnh có hai mục đích chính là tạo ra nước lạnh 2°C để cung cấp cho máy làm lạnh nhanh ở phân xưởng lên men nhằm hạ lạnh dịch đường sau houblon hóa từ nhiệt độ 85÷90°C xuống nhiệt độ lên men 8,5°C, và tạo ra glycol lạnh để làm lạnh các tank lên men, tank bia trong, tank thu hồi men và đường ống.

Nguyên lý hoạt động: Hơi NH3 bão hoà từ bình chứa hạ áp được máy nén hút về và nén lên với nhiệt độ cao, áp suất cao tạo thành hơi cao áp. Hơi cao áp đi vào bình tách dầu, tại đây do cấu tạo của bình tách dầu làm nghẹt dòng hơi nên những hạt dầu lỏng được văng ra, rơi xuống thành bình và được đưa về máy nén. Hơi cao áp sau khi ra khỏi bình tách dầu có nhiệt độ 135÷150°C tiếp tục được đẩy vào 2 dàn ngưng. Tại đây hơi cao áp được giải nhiệt bởi hệ thống phun nước và quạt hút phía trên dàn ngưng và biến thành lỏng cao áp. Lỏng cao áp sau khi đi qua van tiết lưu được chứa trong bình hạ áp, môi chất trong bình lúc này có nhiệt độ là -10°C, áp suất 2bar. Sau đó môi chất lạnh lỏng tiếp tục được bơm đến dàn bay hơi thực hiện quá trình trao đổi nhiệt để làm lạnh nước và glycol và bị biến thành hơi quay trở về hệ thống hồi lưu và tiếp tục vòng tuần hoàn.

Nước lạnh 2°C: Nước thường sau khi xử lý được bơm vào dàn làm lạnh nước, tại đây nước trao đổi nhiệt với tác nhân lạnh NH3 và được làm lạnh đến 2°C. Lỏng NH3 sau khi trao đổi nhiệt chuyển thành hơi và trở về bình tuần hoàn, còn nước sau làm lạnh được chứa trong bồn nước 2°C.

Glycol lạnh: Glycol từ bồn chứa glycol nóng có nhiệt độ 2÷4°C được đưa và thiết bị trao đổi nhiệt, sau khi trao đổi nhiệt glycol đạt nhiệt độ -4°C và được đưa về bồn chứa glycol lạnh để đưa đi làm lạnh. Glycol lạnh sau khi làm lạnh các tank lên men, tank bia trong và đường ống sẽ trở về bồn chứa glycol nóng và tiếp tục được làm lạnh.

7.2. Hệ thống thu hồi khí CO2

7.2.1. Sơ đồ nguyên lí

so-do-nguyen-li-thu-co2

7.2.2. Thuyết minh sơ đồ

Khí CO2 sau khi thu hồi từ các tank lên men sau khi đã đạt được độ tinh khiết theo yêu cầu (≥ 99,8 %) được sục vào cột chứa nước 2°C để khử bọt bia, tách tạp chất và làm giảm áp suất và nhiệt độ. Sau đó khí CO2 được đưa lên phao chứa, lượng khí đưa vào nhiều làm thổi phồng phao. Khi phao đầy lên, máy nén hút khí trong phao về và nén lên áp suất cao 18 bar, rồi đưa qua hai cột silicagen để tách ẩm và qua cột than hoạt tính để tách mùi. Sau đó khí CO2 được đưa qua bầu hoá lỏng CO2 để chuyển CO2 từ thể khí sang thể lỏng, nhiệt độ hoá lỏng là -24 ÷ -30°C với tác nhân hoá lỏng là freon R22. CO2 lỏng từ bình hóa lỏng được đưa vào bình chứa CO2 2 tấn và 10 tấn. Khi cần cấp CO2 đi sản xuất phải hóa hơi CO2 nhờ hơi nước nóng ở nhiệt độ 150°C và p = 4bar. Khí CO2 được cấp cho bộ phận sử dụng như bộ phận lên men, lọc và chiết.

7.3. Hệ thống lò hơi

7.3.1. Sơ đồ hệ thống

so-do-he-thong-lo-hoi

7.3.2. Thuyết minh sơ đồ

Nước từ bồn nước 10m³ được đưa lên bộ làm mềm nước là các cột trao đổi ion để tách các ion Ca2+ và Mg2+:

Ca(HCO3)2 + NaR  → NaHCO3+CaR2

Mg(HCO3)2 + NaR  → NaHCO3+MgR2

Sau khi ra khỏi cột trao đổi ion, nước được bổ sung SBE-150 để ngăn cản sự ăn mòn kim loại, có tác dụng tách các ion Fe2+, Mg2+, Ca2+ bằng cách tạo kết tủa lơ lửng trong nước, tránh hiện tượng đóng cặn trên bề mặt thiết bị. Hàm lượng 1lít hoá chất /5000÷10000 lít nước. Ngoài ra, ta còn sử dụng SBE để làm tăng pH nước đến yêu cầu, nhưng nếu pH của nước cao quá thì ta có thể bổ sung muối để giảm pH của nước đạt yêu cầu. Nước cấp cho lò hơi có pH là 8 ÷ 9. Sau đó nước được đưa qua bồn nước cấp rồi về lò hơi.

Nước ngưng từ nhà nấu, nhà lọc được tập trung về bồn chứa nước ngưng, khi xử lí đạt tiêu chuẩn cũng được bơm về bồn nước cấp.

Nhiên liệu dùng cho lò hơi là dầu FO. Người ta sấy dầu 2 cấp để dầu cháy hết, không hao dầu. Dầu FO từ bồn chứa 15m³ được bơm qua bồn chứa 5m³ tại đây dầu được sấy sơ bộ bằng điện trở ở nhiệt độ 60°C. Sau đó dầu được bơm cao áp bơm đến bộ phận sấy dầu lần 2 bằng điện trở hay bằng hơi nước rồi vào lò hơi, nhiệt độ của dầu lúc này là 90°C. Sau đó dầu nóng được đưa vào lò hơi, tại đây dầu được đốt cháy hoàn toàn thực hiên quá trình trao đổi nhiệt với nước làm nước bốc hơi. Hơi nước theo đường ống đến bộ bao hơi và cấp đi nơi tiêu thụ, dầu sau trao đổi nhiệt được hồi lưu về bồn sấy dầu lần 1.

Lò hơi có cấu tạo gồm nhiều ống trao đổi nhiệt. Dầu đốt cháy đi trong ống, nước đi ngoài ống. Khi dầu nóng vào bộ phận đánh tia lửa điện họat động, có ga phun ra để mồi lửa làm cháy dầu. Khi dầu cháy thì bộ phận đánh tia lửa điện tắt. Nếu áp suất trong lò trên 8bar thì bộ bơm dầu ngừng hoạt động, nều áp suất nhỏ hơn 6bar thì dầu tự động được bơm vào.

7.4. Hệ thống xử lý nước thải

7.4.1. Hệ thống xử lý nước dùng cho sản xuất

7.4.1.1. Sơ đồ hệ thống

so-do-he-thong-xu-ly-nuoc-thai-cho-san-xuat

7.4.1.2. Thuyết minh quy trình

Trong nhà máy bia, nước được dùng với nhiều mục đích: nấu nguyên liệu, thanh trùng, vệ sinh thiết bị, làm lạnh dịch nha, phối trộn bia… Nước ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng bia. Chính vì vậy nước nấu bia không những đòi hỏi đầy đủ các tiêu chuẩn nước uống mà còn đòi hỏi các tiêu chuẩn riêng đáp ứng với công nghệ sản xuất bia.

Nhà máy sử dụng hai nguồn nước chính là nước thủy cục và nước giếng khoan. Nước thủy cục được bơm vào bể lắng 1 có thể tích 200m³ để tách các tạp chất nặng xuống đáy. Nước giếng khoan từ 5 giếng được bơm với công suất 40m³/ h qua tháp khử sắt để tách sắt trong nước ra. Tại tháp khử sắt dịch clorine được bơm hòa trộn vào trong nước đã khử sắt theo đường ống để sát trùng. Lượng clorine hòa trộn vào nước khoảng từ 3÷4mg/l, sau đó nước được đưa xuống bể lắng 1 chung với nước thủy cục. Tiếp tục nước từ bể chứa 1 được bơm qua bộ lọc cát, bộ lọc cát gồm 2 thùng lọc làm việc đồng thời nhằm mục đích loại bỏ tạp chất thô. Thùng lọc cát gồm nhiều lớp: Sạn to phía trên, sạn nhỏ ở giữa, cát ở dưới. Tốc độ lọc 40m³/h, áp lực cơ học 3÷4kg/cm³.

Nước sau khi qua lọc cát phải đạt các tiêu chuẩn sau: pH = 6,5 ÷ 7,5, hàm lượng clorine 0,5 ÷ 1mg/l, độ đục < 0,5 NTU.

Khi đạt các chỉ tiêu trên, nước được bơm qua bể chứa 2 có thể tích 100 m³. Sau đó nước được bơm qua bộ phận lọc than để khử mùi lạ và clorine, áp lực lọc 2÷3kg/cm². Sau khi lọc than yêu cầu nước phải có hàm lượng clorine <0,1mg/l, pH = 6.5 ÷ 8. Cuối cùng nước được bơm qua hệ thống lọc tinh. Sau khi lọc tinh nước được loại bỏ hoàn toàn clorine và tạp chất nhỏ. Nước này sẽ được chứa trong bồn chứa nước công nghệ với thể tích 32m³ và được kiểm tra các chỉ tiêu khi đạt các yêu cầu công nghệ mới được dùng cho sản xuất. Một phần nước sau khi lọc than được chứa trong bồn chứa 10m³ để cấp cho các phân xưởng không đòi hỏi yêu cầu cao về chất lượng nước và phục vụ cho sinh hoạt của công nhân.

7.2. Hệ thống xử lý nước thải

7.2.1. Sơ đồ hệ thống xử lý nước thải

so-do-he-thong-xu-ly-nuoc-thai

7.2.2. Thuyết minh sơ đồ

Nước thải từ các phân xưởng của nhà máy được tập trung về bể gom, trước bể gom có tấm chắn lớn để giữ lại các chất rắn lớn. Sau đó nước được đưa về bể tách dầu, dầu được tách ra dựa vào trọng lực, dầu nổi lên trên và nước được rút ở dưới. Nước được tiếp tục đưa vào bể điều hoà, tại đây bơm không khí vào để sục khí. Bể điều hoà nhằm để điều chỉnh pH để thuận lợi cho vi sinh vật phát triển, nâng cao hàm lượng oxi, tách dầu, pH tại bể diều hòa là 5,5÷9.

Nước thải tiếp tục bơm qua bể lắng 1. Nước lắng trên mặt được đưa qua bể sinh học, còn bùn dưới đáy được bơm về bể bùn. Khi bể bùn đầy thì xe về chở đi.Tại bể sinh học chia làm 3 ngăn, trong bể sinh học sử dụng vi sinh vật hiếu khí để phân giải tinh bột, tạp chất bẩn, cần sục khí để vi sinh vật sống và phát triển. Trong trường hợp nhà máy ngừng hoạt động, không đủ thức ăn cho vi sinh vật thì cần bổ sung thêm urê để làm thức ăn. Từ ngăn 1 đến ngăn 3 mức độ sục khí tăng dần và độ đục giảm dần. Nước từ bể lắng 1 đưa vào bể sinh học vào ngăn 1 trước rồi đưa qua ngăn 2 và ngăn 3. Nước bề mặt ngăn 3 của bể sinh học đưa vào bể lắng 2 để lắng bùn bẩn và xác vi sinh vật, còn bùn ở bể lắng 2 được bơm trở lại bể sinh học ở ngăn 1 để tiếp tục xử lí. Nước lắng trong được thải ra ngoài.

Tin tức chuyên gia Related
Mở Chat
1
Close chat
Xin chào! Cảm ơn bạn đã ghé thăm website. Hãy nhấn nút Bắt đầu để được trò chuyện với nhân viên hỗ trợ.

Bắt đầu

error: Content is protected !!
Click để liên hệ