Close

Tháng Mười Hai 27, 2018

TCVN 8615-2:2010 – PHẦN 16

6.3. Dung sai

6.3.1. Dung sai ngoại biên của móng

Trong trường hợp sử dụng dầm xuyến bê tông đặt bên dưới vỏ bể, mặt trên của dầm có dung sai cao trình là ±3 mm trong bất kỳ khoảng độ dài 10 m nào của chu vi (được tính từ độ cao trung bình) và trong khoảng ±6 mm trong toàn bộ chu vi vỏ bể tính từ độ cao trung bình.

Nếu sử dụng bản đáy bằng bê tông, vùng 300 mm bên trong và 300 mm bên ngoài của vỏ bể phải tuân theo dung sai cao trình của dầm xuyến bê tông.

6.3.2. Các dung sai bề mặt móng khác

Tất cả các sai số, tính với tấm dài 3 m, đều không được lớn hơn 15 mm.

6.3.3. Dung sai tấm đáy bể

Các biến dạng cục bộ của tấm đáy phải được giảm thiểu bằng cách kiểm soát trình tự hàn hay lắp đặt các tấm tăng cứng tạm thời,… Các biến dạng này không được vượt quá 75 mm trên một khoảng cách nhỏ hơn 3 m.

6.3.4. Kết nối vỏ bể với đáy

Sau khi lắp ráp và hàn lớp vỏ bể đầu tiên vào đáy, dung sai bán kính trong của vỏ bể đo theo chiều ngang ở độ cao 300 mm tính từ đáy bể, phải nằm trong giới hạn nêu ở Bảng 9. Phép đo phải được thực hiện ở tâm của mỗi tấm vỏ bể.

Bng 9 – Dung sai bán kính bể

Đường kính, DmDung sai bán kínhmm
D ≤ 12± 12
12 < D ≤ 46± 19
46 < D ≤ 76± 25
76 < D± 30

6.3.5. Độ ôvan

Độ sai lệch giữa đường kính tối đa và tối thiểu tại độ cao bất kỳ trên vỏ bể không được phép vượt quá 1 % đường kính hoặc 300 mm, tùy giá trị nào nhỏ hơn.

6.3.6. Biến dạng cục bộ trên tấm

Biến dạng cục bộ của các tấm vỏ bể phải được kiểm tra bằng một thước thẳng 1 m theo phương thẳng đứng và một tấm mẫu dài 1 m theo phương ngang. Các tấm mẫu dùng cho các phép đo theo phương ngang phải được chế tạo phù hợp với bán kính thiết kế của bể.

Độ sai lệch tối đa giữa mẫu thiết kế và mẫu được chế tạo phải phù hợp với Bảng 10.

Bảng 10 – Độ sai lệch tối đa giữa mẫu thiết kế và mẫu được chế tạo

Chiều dày tấm, emmĐộ chênh lệchmm
e ≤ 12,516
12,5 < e ≤ 25,013
25,0 < e

10

6.3.7. Biến dạng cục bộ trên mối hàn

Biến dạng cục bộ tại các mối hàn, góc gấp (peaking), về phía trong hoặc phía ngoài trọng tâm của bể chứa (xem Hình 5), và dung sai phải được áp dụng cho từng điều kiện cụ thể.

Góc gấp (peaking) phải được đo bằng dụng cụ chuyên dụng (xem Hình 6). Dụng cụ đo phải được thiết lập góc gấp tối đa cho phép (có thêm hiệu chỉnh cho versine) theo quy định trong Bảng 11.

Góc gấp có thể chấp nhận được khi một trong những chân bên ngoài nâng lên khỏi bề mặt.

CHÚ THÍCH: Góc gấp đường hàn có chiều dài giảm ngăn việc sử dụng khuôn mẫu được khía vào bề rộng đường hàn.

Xem lại: TCVN 8615-2:2010 – PHẦN 15

Xem tiếp: TCVN 8615-2:2010 – PHẦN 17

Tin tức Related
Mở Chat
1
Close chat
Xin chào! Cảm ơn bạn đã ghé thăm website. Hãy nhấn nút Bắt đầu để được trò chuyện với nhân viên hỗ trợ.

Bắt đầu

error: Content is protected !!
Click để liên hệ