Close

Tháng Một 17, 2019

TCVN 8607-3:2010 – phần 4

– số chu trình đạt áp suất chu kỳ cao hơn, ở từng giai đoạn;

– áp suất chu trình tối thiểu và tối đa;

– tần suất chu trình;

– các thông số quy định tại 8.5.3.

8.5.6.3. Tiêu chí

Áp suất nổ, pb, không được nhỏ hơn ph x 1,4, ph là áp suất thử nghiệm của thiết kế chai composite.

8.5.7. Thử rão ở nhiệt độ cao

8.5.7.1. Quy trình

Đối với chai có tuổi thọ thiết kế nhỏ hơn 20 năm, hai chai phải được tạo áp suất thủy lực tới áp suất thử, ph, và phải được duy trì ở áp suất này trong 1 000 h. Đối với chai có tuổi thọ thiết kế bằng hoặc lớn hơn 20 năm, phép thử phải được thực hiện trong 2 000 h. Đối với chai có áp suất thử thiết kế nhỏ hơn 60 bar và đối với chai được chế tạo không có ống lót, phép thử phải thực hiện trong 2 000 h.

Phép thử phải được tiến hành ở nhiệt độ tối thiểu là 70 °C và độ ẩm tương đối nhỏ hơn 50 %.

Sau thử nghiệm này, chai phải được thử rò rỉ (xem 8.5.15) và thử nổ (xem 8.5.3).

Các thông số để giám sát và ghi lại:

– Giám sát do dung tích nước trước và sau khi thử;

– Nhiệt độ và độ ẩm tương đối ít nhất hai lần trong một ngày;

– Áp suất chai ít nhất hai lần trong một ngày;

– Các thông số quy định tại 8.5.3.

8.5.7.2. Tiêu chí

Chai không được có biểu hiện của bất kỳ biến dạng nhìn thấy được hoặc các sợi bị chùng, không căng (sổ sợi ra) nào; chai phải đáp ứng các tiêu chí của thử rò rỉ (xem 8.5.15); áp suất nổ, pb, phải bằng hoặc lớn hơn hai lần so với áp suất thử, Ph.

8.5.8. Thử nứt

8.5.8.1. Qui định chung

Hai chai phải được thử theo quy trình sau.

8.5.8.2. Quy trình

Tạo một vết nứt dọc trên từng chai bằng cách cắt tại vị trí giữa chiều dài của thành trục chai. Vết rạn được tạo bằng một dao cắt dày 1 mm cắt đến chiều sâu ít nhất bằng 40 % chiều dày của lớp composite và đến chiều dài giữa các tâm của dao cắt bằng năm lần chiều dày lớp composite.

Một vết nứt thứ hai nằm ngang có cùng kích thước như vết cắt dọc được cắt vào từng chai tại vị trí giữa chiều dài của thành chai khoảng 120° xung quanh chu vi từ vết rạn kia.

Một chai phải được thử nổ được quy định tại 8.5.3.

Chai kia phải được thử chu trình ở môi trường xung quanh quy định tại 8.5.4, nhưng áp suất giới hạn trên của chu trình phải bằng 2/3 lần áp suất thử ph, và phép thử phải được ngừng lại sau 5 000 chu trình nếu chai không bị hỏng.

Các thông số để giám sát và ghi lại:

– Kích thước của các vết nứt;

– Nhiệt độ của chai;

– Số lượng chu trình về việc đạt được áp suất chu trình cao;

– áp suất giới hạn dưới và trên của chu trình;

– tần suất chu trình;

– môi chất sử dụng;

– dạng hỏng, nếu có.

8.5.8.3. Tiêu chí

Chai thứ nhất: áp suất nổ, pb, phải bằng hoặc lớn hơn 4/3 lần áp suất thử, ph.

Chai thứ hai: chai phải chịu được ít nhất 1 000 chu trình áp suất để đạt tới 2/3 áp suất thử, ph, mà không có sự rò rỉ. Nếu chai hỏng do rò rỉ sau 1 000 chu trình thử chai được coi là đã qua thử nghiệm. Tuy nhiên, thử nổ chai này mà thất bại thi khi đó chai không đạt thử nghiệm.

8.5.9. Thử rơi

8.5.9.1. Đối với chai có dung tích nước không lớn hơn 50 lít

8.5.9.1.1. Quy trình

Hai chai được nạp nước tới 50 % dung tích và được lắp khít bằng một nút, ngang bằng với đầu của mỗi chai.

Chai phải được thả rơi hai lần, mỗi lần tại năm vị trí như thể hiện trên Hình 1, từ độ cao 1,2 m, trên một tấm thép. Tấm bảo vệ phải đủ phẳng sao cho mức độ chênh giữa bất kỳ hai điểm nào trên bề mặt không lớn hơn 2 mm. Nó phải được thay thường xuyên, và nếu bị hư hỏng, phải thay ngay lập tức.

Một chai phải được thử nổ quy định tại 8.5.3.

Chai kia phải được thử chu trình áp suất quy định tại 8.5.4.

Các thông số để giám sát và ghi lại:

– dạng bên ngoài nhìn thấy được sau mỗi lần rơi – ghi vị trí và kích thước của hư hỏng do va đập;

– các thông số được quy định trong phép thử tại 8.5.3;

– các thông số được quy định trong phép thử tại 8.5.4.

Kích thước tính bằng mét

1

Hình 1 – Thử rơi

8.5.9.1.2. Tiêu chí

Chai thứ nhất: áp suất nổ, pb, phải bằng hoặc lớn hơn 100 % mức nổ nhỏ nhất yêu cầu trong thử nổ (xem 8.5.3).

Chai thứ hai: chai phải đáp ứng các yêu cầu của thử chu trình ở môi trường xung quanh (xem 8.5.4).

8.5.9.2. Đối với chai có dung tích nước lớn hơn 50 lít

8.5.9.2.1. Quy trình

Một chai rỗng, được lắp thích hợp với thiết bị bịt kín (dụng cụ kẹp chì) để bảo vệ ren và các bề mặt để bịt kín, được thử rơi từ chiều cao lớn nhất 1,8 m trên một bề mặt bê tông phẳng nhẵn hoặc như được quy định trước theo trình tự rơi như sau.

– Theo phương ngang chiều vào thành bên chai;

– Theo phương thẳng đứng chiều vào đáy chai – tuy nhiên thế năng cực đại không được vượt quá 1220 Nm (900 ft-lb.);

– Theo phương thẳng đứng chiều vào đầu kia của chai – tuy nhiên thế năng cực đại không được vượt quá 1220 Nm (900 ft-lb.);

– Theo phương tạo góc 45° để đập vào vai chai – tuy nhiên chiều cao rơi phải sao cho trọng tâm của chai cách nền 1,8 m và vai chai cách nền tối thiểu là 0,6 m. Nếu điều này là không thể, góc rơi phải được điều chỉnh để duy trì một chiều cao tối thiểu là 0,6 m và trọng tâm của chai cách nền 1,8 m.

Sau đó chai phải chịu 12 000 chu trình áp phù hợp với quy trình được qui định trong 8.5.4 nhưng áp suất giới hạn trên của chu trình phải bằng 2/3 lần áp suất thử, ph.

Các thông số để theo dõi và ghi lại:

– dạng bên ngoài có thể nhìn thấy được sau mỗi lần rơi – ghi vị trí và kích thước của hư hỏng do va đập;

– các thông số được quy định trong phép thử tại 8.5.4.

8.5.9.2.2. Tiêu chí

Chai phải chịu được 3 000 chu trình áp để đạt tới áp suất bằng 2/3 áp suất thử nghiệm, pb, mà không có sự hư hỏng do nổ hoặc rò rỉ. Phép thử phải được tiếp tục thêm 9 000 chu trình, hoặc cho đến khi chai hỏng do rò rỉ, tùy theo số chu trình nào xảy ra trước. Chai được coi là đạt tại một trong hai trường hợp. Tuy nhiên trong phần hai của phép thử mà chai bị hỏng do nổ thì khi đó chai không đạt thử nghiệm.

8.5.10. Thử va đập vận tốc cao (bắn súng)

8.5.10.1. Quy trình

Một chai được nạp đầy không khí hay nitơ đến áp suất bằng 273 lần áp suất thử, ph.

Chai được định vị sao cho điểm va đập của đạn phải tại thành bên của chai ở một góc danh định 45 ° và khi đó đạn sẽ bắn qua thành bên của chai.

Đạn phải xuyên qua ít nhất một thành của chai. Nếu không đạt, phải tăng năng lượng của đạn lên cho đến khi đạt được.

Chai có đường kính trên 120 mm phải được va đập bằng một đầu đạn đâm thủng bọc thép 7,62 mm (0,3 calibre) (chiều dài từ 37 mm đến 51 mm) với tốc độ danh nghĩa khoảng 850 m/s. Đạn được bắn từ một khoảng cách không quá 45 m.

Chai có đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 120 mm phải được va đập bằng một đầu đạn đâm thủng bọc thép cỡ 5,6 mm (hoặc tương tự) với tốc độ danh nghĩa 850 m/s. Đạn được bắn từ một khoảng cách không quá 45 m.

Kích thước của các lỗ vào và lỗ ra khỏi được đo và ghi lại.

Sau khi thử chai không được sử dụng lại.

Các thông số để giám sát và ghi lại:

– kiểu đầu đạn;

– áp suất ban đầu;

– Mô tả của hư hỏng;

– kích thước gần đúng của lỗ vào và lỗ ra khỏi.

8.5.10.2. Tiêu chí

Chai phải giữ được nguyên khối.

8.5.11. Thử khả năng chịu lửa

8.5.11.1. Qui định chung

Thử nghiệm này là bắt buộc nếu có lắp thiết bị giảm áp để ngăn ngừa hư hỏng trong trường hợp hỏa hoạn, và là tùy chọn cho các mục đích sử dụng khác.

8.5.11.2. Quy trình

Một chai được lắp một van như sau:

a) với một van dự định để sử dụng (nếu đã biết) hoặc

b) với một van có đĩa nổ được lắp để hoạt động từ ph đến 1,15 ph.

Nếu van xả áp trong thử nghiệm là dự định để sử dụng trong dịch vụ [nghĩa là lựa chọn a)], các đặc tính kỹ thuật của van phải được ghi trên nhãn (xem 10.2).

Chai phải được nạp không khí hay nitơ hoặc khí để sử dụng đến 2/3 lần áp suất thử, ph.

Một ngọn lửa thích hợp có thể được tạo ra với khí đốt hoặc là gỗ, hoặc nhiên liệu hydrocacbon khác (xem ISO 11439 cho các chi tiết của cấu tạo ngọn lửa).

CHÚ THÍCH 1: Các tiêu chuẩn khác có hướng dẫn cho việc tạo một phép thử ngọn lửa phù hợp là CGA C14:1992 và EN 3-1:1996.

Chai có thể được thử khả năng chịu lửa ở vị trí thẳng đứng hay nằm ngang như sau.

Phương thẳng đứng – Một chai được đặt ở một vị trí thẳng đứng (van ở vị trí cao nhất), với phần thấp nhất của chai cách mặt đỉnh của củi khoảng 0,1 m, trong trường hợp ngọn lửa củi, hoặc cách bề mặt chất lỏng 0,1 m trong trường hợp cháy nhiên liệu. Chai và van phải được tiếp xúc toàn bộ trong ngọn lửa, nhưng thiết bị giảm áp phải được bảo vệ tránh tiếp xúc trực tiếp với ngọn lửa.

Phương ngang – Một chai được đặt ở một vị trí nằm ngang với phần thấp nhất của chai cách mặt đỉnh của gỗ cháy khoảng 0,1 m, trong trường hợp của cháy gỗ, hoặc cách bề mặt chất lỏng 0,1 m trong trường hợp cháy nhiên liệu. Chai và van phải được tiếp xúc toàn bộ trong ngọn lửa dọc theo toàn bộ chiều dài của nó, nhưng thiết bị xả áp phải được bảo vệ khỏi vùng ngọn lửa trực tiếp.

Ngọn lửa phải có khả năng bao bọc toàn bộ chiều dài của chai, khi ở vị trí ngang, và tạo nhiệt độ ³ 590 °C, được đo cách 25 mm phía dưới chai này, trong 2 min.

Chai được tiếp xúc với lửa cho đến khi thoát hơi.

Các thông số để giám sát và ghi lại:

– Loại và tính chất của thiết bị xả;

– Áp suất ban đầu;

– Vị trí của rò rỉ;

– Nhiệt độ;

– Thời gian.

8.5.11.3. Tiêu chí

Chai không được nổ trong khoảng thời gian 2 min từ khi bắt đầu thử cháy. Nó có thể thoát hơi thông qua thiết bị xả áp hoặc rò rỉ qua thành chai hoặc các bề mặt khác.

CHÚ THÍCH 2: Thử nghiệm này không ngụ ý rằng chỉ có một cụm thiết bị xả áp đưa ra sự bảo vệ lửa cho hệ thống van/prd (thiết bị xả áp).

8.5.12. Thử độ thẩm thấu

8.5.12.1. Qui định chung

Qui trình sau đây được khuyên dùng, nhưng các cách khác mà đạt được kết quả tương tự là được phép. Thử nghiệm này chỉ yêu cầu cho chai bằng composite với ống lót phi kim loại và cho chai không có ống lót.

8.5.12.2. Quy trình

Chai thử được cân khi không có khí chứa, trước và sau khi thử và sự khác nhau được ghi lại để tránh các sai số do độ ẩm.

Hai chai được tạo áp trước đến 2/3 lần áp suất thử, ph, và van và các mối nối của ống lót phi kim loại với vấu kim loại hoặc vòng phải được kiểm tra bằng mắt về rò rỉ, ví dụ như với nước xà phòng (thử bong bóng). Bất kỳ rò rỉ nào phải được loại bỏ trước khi tiến hành thử nghiệm. Chai phải được khử áp suất.

Các chai được tạo chu trình 1 000 lần bằng thủy lực từ áp suất bằng không đến áp suất bằng 2/3 lần áp suất thử, ph, trước khi được cân khi không có khí chứa, và ghi lại trọng lượng. Sau đó chai được nạp đầy khí tới áp suất bằng 2/3 lần áp suất thử, ph, (xem sự xác định khí thử theo tiêu chí dưới đây) ở nhiệt độ 15 °C.

Chai sau đó phải được cân một lần nữa và trọng lượng của khí lưu trữ phải được xác định và ghi lại. Chai phải được cân sau 1 d; 7 d; 14 d; 21 d; 28 d. (d là viết tắt của ngày).

Đồ thị của sự thay đổi trọng lượng cho mỗi số ngày phải được xác định.

Các thông số để giám sát và ghi lại:

– Khí thử được sử dụng;

– Môi chất sử đụng;

– Số lượng chu trình đạt được áp suất giới hạn trên của chu trình;

– Tần suất chu trình;

– Nhiệt độ môi trường và độ ẩm ít nhất hai lần một ngày;

– Các trọng lượng của chai.

8.5.12.3. Tiêu chí

Sự hao hụt trọng lượng của khí lưu trữ phải được xác định. Mức tối đa của hao hụt trọng lượng phải ít hơn X ml / h/l dung tích nước, trong đó X là như sau:

– Đối với các ứng dụng nói chung, khi tốc độ thẩm thấu của khí cao hơn của không khí dùng để thiết kế chai. Khí thử phải là khí mà với khí đó chai được thiết kế, hoặc một khí lựa chọn khác có tốc độ thẩm thấu cao hơn, và X = 0,25;

– Đối với các ứng dụng nói chung, khi tốc độ thẩm thấu của khí nhỏ hơn của không khí hay nitơ, khí thử phải là khí đó, hoặc không khí hoặc khí nitơ và X = 0,25;

– Đối với các ứng dụng đặc biệt, giá trị của X phải được lựa chọn phù hợp theo các ứng dụng.

8.5.13. Thử momen xoắn trên vấu cổ chai

8.5.13.1. Quy trình

Xem lại: TCVN 8607-3:2010 – phần 3

Xem tiếp: TCVN 8607-3:2010 – phần 5

Tin tức Related
Mở Chat
1
Close chat
Xin chào! Cảm ơn bạn đã ghé thăm website. Hãy nhấn nút Bắt đầu để được trò chuyện với nhân viên hỗ trợ.

Bắt đầu

error: Content is protected !!
Click để liên hệ