Close

Tháng Một 18, 2019

Chai chứa khí – chai chứa khí axetylen hòa tan vận chuyển được – kiểm tra và bảo dưỡng định kỳ – phần 2

6.7.3. Ren trong cổ chai bị hư hỏng

Khi cần thiết và khi nhà sản xuất hoặc cơ quan thiết kế có thẩm quyền xác nhận rằng kết cấu của cổ chai cho phép thì có thể tarô lại ren hoặc thay đổi loại ren để bảo đảm số vòng ren làm việc thích hợp.

Sau khi tarô lại ren hoặc thay đổi loại ren thì phải kiểm tra ren bằng thước đo ren (calip ren) thích hợp (ví dụ TCVN 7166 đối với ren 25E).

6.7.4. Ép chặt vòng và vành cổ chai

Khi vòng/vành cổ chai được ép chặt, phải tiến hành kiểm tra để bảo đảm rằng nó được ép chặt chắc chắn và ren không bị hư hỏng. Chỉ được thay vòng cổ chai theo quy trình đã được chấp thuận. Nếu tìm thấy bất cứ hư hỏng đáng kể nào đối với vật liệu chai do sự thay thế vòng/vành cổ chai thì phải xếp chai vào loại không được sử dụng (xem Điều 14).

6.8. Lắp ráp lại

Các chai đáp ứng các yêu cầu của tiêu chuẩn này phải được lắp ráp lại bằng cách thay vật liệu bít kín ở đầu cổ chai, theo quy định của nhà sản xuất chất xốp, và lắp các bộ lọc mới để bảo đảm rằng khi lắp ráp van, đáy của thân van tiếp xúc với bộ lọc/đệm kín.

Các van mới hoặc van đã qua phục hồi phải được lắp vào chai bằng cách sử dụng vật liệu bít kín thích hợp và momen vặn ren cần thiết để bảo đảm mối nối kín khí giữa van và chai theo TCVN 7389.

Khi có yêu cầu của các quy định có liên quan, phải lắp một vòng chỉ ngày (năm) kiểm tra định ký sắp tới trên thân van trước khi lắp van. Phụ lục G đua ra một ví dụ về hệ thống hiện có để chỉ báo ngày kiểm tra lại. Có thể sử dụng các hệ thống khác.

7. Nhận biết các chất chứa trong chai

Trước khi đưa chai vào sử dụng lại phải nhận biết được các chất chứa trong chai. Ví dụ, xem TCVN 6296 và TCVN 6293.

8. Ghi nhãn

Mỗi chai đã qua kiểm tra vỏ chai và chất xốp phải được ghi nhãn với nội dung ngày kiểm tra và ký hiệu (biểu tượng) của cơ quan kiểm tra hoặc trạm thử nghiệm phù hợp với tiêu chuẩn hoặc quy định có liên quan, ví dụ ISO 13769. Khi cần thiết phải có sự thay đổi trong nhãn mác (ví dụ, do thay đổi của khối lượng bì vì phải thay vòng ở chân, vòng cổ, bộ phận bảo vệ, van hoặc chất xốp hoặc phải bổ sung thêm chất xốp mới thì nhãn mác cũ phải được xóa đi (hoặc xóa đi bằng gạch chéo) và ghi (đóng dấu) các dữ liệu mới. Phải sử dụng phương pháp sao cho không làm hư hỏng chất xốp.

Khi có yêu cầu của các quy định có liên quan, phải chỉ ra ngày kiểm tra tiếp sau bằng phương pháp thích hợp như sử dụng một vòng được lắp giữa van và chai để chỉ báo ngày (năm) kiểm tra định kỳ tiếp sau. Phụ lục G đưa ra một ví dụ về hệ thống hiện có để chỉ báo ngày kiểm tra lai. Có thể sử dụng các hệ thống khác và các hệ thống tương tự có các màu sắc khác nhau cho cùng một năm.

Đối với các chất xốp nguyên khối, không được phép đóng dấu nhãn trên vai của các chai hàn trừ khi có sử dụng biển nhãn hoặc dấu nhãn được chế tạo cùng với chai. Trong các trường hợp này có thể đóng dấu nhãn trên một vòng ở dưới van (xem ISO 13769).

9. Hồ sơ

Hồ sơ kiểm tra chai phải được lưu giữ trong 15 năm. Hồ sơ phải ghi đủ thông tin để nhận biết một cách chắc chắn về chai và các kết quả kiểm tra. Phải sẵn có các thông tin sau cho kiểm tra:

a) Tên của chủ sở hữu;

b) Số loạt của chủ sở hữu hoặc nhà sản xuất;

c) Loại và khối lượng chất xốp được bổ sung thêm, nếu có;

d) Sự thay thế phụ tùng, nếu có;

e) Sự thay đổi khối lượng bì của chai, nếu có;

f) Kết quả kiểm tra và thử (đạt hoặc không đạt – trong trường hợp không đạt nên ghi lý do);

g) Ngày thử lại – ngày/tháng/năm;

h) Ký hiệu nhận biết cơ quan thử lại hoặc trạm thử;

i) Nhận diện người thử lại;

j) Nội dung chi tiết về sửa chữa các khuyết tật của chai như đã mô tả trong Phụ lục C.

10. Loại bỏ và xếp chai vào loại không sử dụng được nữa

Quyết định loại bỏ một chai có thể được đưa ra ở bất cứ giai đoạn nào trong quá trình kiểm tra định kỳ và quy trình thử. Nếu không thể phục hồi lại chai đã bị loại bỏ thì sau khi thông báo cho người chủ sở hữu, trạm thử nghiệm phải xếp chai vào loại không được sử dụng để sao cho không thể đưa vào sử dụng lại bất cứ bộ phận nào của chai, đặc biệt là vai chai. Trong trường hợp không có sự thỏa thuận nào đó thì phải bảo đảm rằng các hành động theo pháp luật phải được thực thi.

Trước khi có bất cứ hành động nào sau đây phải bảo đảm rằng các chai ở trạng thái rỗng (xem Điều 5).

Có thể sử dụng các phương pháp sau:

a) Cán bẹp chai bằng phương tiện cơ khí;

b) Cắt bằng hơi hàn một lỗ không đều trên vòm đỉnh chai tương đương với diện tích xấp xỉ bằng 10 % diện tích của vòm đỉnh hoặc trong trường hợp chai có thành mỏng cần khoan lỗ ít nhất là tại ba vị trí;

c) Cắt không đều ở cổ chai; hoặc

đ) Cắt không đều chai thành hai hoặc nhiều phần bao gồm cả vai chai.

11. Hủy bỏ các chai không sử dụng được nữa

Các phương pháp dùng để hủy bỏ các chai không chứa khí axetylen không thích hợp cho các chai chứa khí axetylen vì tính chất của các chất chứa trong chai axetylen.

Khi hủy bỏ các chai chứa khí axetylen phải rất quan tâm tới thực tế là các chai có thể chứa axetylen, dung môi còn dư (DMF, axeton) và chất xốp, chất xốp này có thể chứa amian.

Việc hủy bỏ cần phù hợp với các quy định của địa phương, tỉnh, thành phố và quốc gia.

PHỤ LỤC A

(tham khảo)

CHU KỲ KIỂM TRA

A.1. Chu kỳ thử lại

Thông tin sau được phác thảo trong Kiến nghị của Liên hiệp quốc về Chuyên chở hàng hóa nguy hiểm. Quy định mẫu (model), xuất bản lần thứ 13. Nên tra cứu ấn phẩm mới nhất.

Hướng dẫn đóng gói P200 của Kiến nghị của Liên hiệp quốc về Chuyên chở hàng hóa nguy hiểm, Quy định mẫu (model), xuất bản lần thứ 13 có sửa đổi, quy định như sau:

Điều khoản về đóng gói đặc biệt p: Đối với axetylen UN 1001, hòa tan và axetylen UN 3374, không có dung môi, các chai phải được chứa đầy chất xốp nguyên khối đồng nhất.

Đối với axetylen UN 1001, hòa tan, chu kỳ thử không quá 10 năm.

Đối với axetylen UN 3374, không có dung môi, chu kỳ thử không quá 5 năm.

A.2. Kiến nghị

Chai chứa khí axetylen, nếu phải được kiểm tra định kỳ theo các yêu cầu của tiêu chuẩn này thì nên tuân theo chu kỳ kiểm tra quy định như sau:

– Đối với các chai chứa chất xốp không nguyên khối: Đối với tất cả các chai mới nạp, kiểm tra định kỳ lần đầu tiên nên được thực hiện sau 2 năm ± 6 tháng sử dụng. Sau đó, các kiểm tra tiếp sau nên được thực hiện 5 năm một lần.

– Đối với các chai chứa chất xốp nguyên khối: Đối với tất cả các chai mới nạp, kiểm tra định kỳ lần đầu tiên nên được thực hiện sau 3 năm ± 6 tháng sử dụng. Sau đó, các kiểm tra tiếp sau nên được thực hiện 10 năm một lần.

PHỤ LỤC B

(quy định)

PHƯƠNG PHÁP ĐƯỢC CHẤP NHẬN KHI THÁO VAN VÀ KHI CÓ NGHI NGỜ VAN BỊ TẮC

B.1. Kiểm tra van bị tắc

Phải thực hiện phương pháp kiểm tra sau chỉ bởi các nhân viên đã được đào tạo. Xét về mặt các mối nguy hiểm có thể xảy ra trong chai chứa khí axetylen, công việc này có thể dẫn đến thương tích do sự giải phóng năng lượng còn tích trữ trong chai, nguy hiểm về cháy và độc hại, do đó các nhân viên phải có sự đề phòng cần thiết khi tiến hành công việc. Khi khí axetylen, nếu có, đã được giải thoát và áp suất trong chai giảm tới áp suất khí quyển như đã mô tả trong 5.1 thì có thể tháo van sau khi đã có sự kiểm tra bổ sung thêm để xác minh rằng không có đường đi tự do qua van.

Như đã chỉ ra trong 5.1 và 5.3, phải tiến hành kiểm tra có hệ thống để xác minh rằng đường đi qua van không bị tắc. Phương pháp được lựa chọn phải là phương pháp được thừa nhận như đưa khí trơ ở áp suất 5 bar vào kiểm tra sự xả ra có nó hoặc là phương pháp có sự bảo đảm an toàn tương đương.

B.2. Van không bị tắc

Chỉ khi nào đã xác minh được rằng không có sự tắc nghẽn dòng khí trong van chai thì mới có thể tháo van.

B.3. Van bị tắc

Khi đường đi của khí trong van chai được xác định là bị tắc thì chai phải được để sang một bên và do người được đào tạo chuyên sâu xử lý công việc này. Phương pháp ưu tiên là tháo van ra một phần trong mũ tháo van được kẹp chặt và được nối với chai và được thông hơi với một đường xả an toàn.

Nguyên lý của thiết bị này được minh họa trên Hình B.1. Phương pháp này phải được tiến hành theo cách có điều khiển được để tránh gây thương tích cho người.

1

CHÚ DẪN

  1. Bộ phận truyền động cho máy tháo van
  2. Vòng bịt kín khí
  3. Đệm kín khí
  4. Khung chai và bộ phận kẹp
  5. Áp kế
  6. Van thông hơi

a Chiều quay

b Tới hệ thống thử khí

Hình B.1 – Thiết bị điển hình để tháo van chai chứa khí bị tắc

 

PHỤ LỤC C

(quy định)

MÔ TẢ VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC KHUYẾT TẬT VÀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ LOẠI BỎ CÁC CHAI CHỨA KHÍ AXETYLEN TẠI THỜI ĐIỂM KIỂM TRA BẰNG MẮT

C.1. Quy định chung

Các khuyết tật của chai chứa khí có thể là các khuyết tật về vật lý, về vật liệu hoặc ăn mòn do điều kiện môi trường hoặc điều kiện sử dụng mà chai phải chịu đựng trong thời gian tuổi thọ của nó.

Mục tiêu của phụ lục này là đưa ra hướng dẫn chung cho người sử dụng chai chứa khí về việc áp dụng các chuẩn cứ loại bỏ, các chuẩn cứ này giống như các chuẩn cứ trong các tiêu chuẩn kiểm tra và thử định kỳ các chai chứa khí bằng thép không hàn, hợp kim nhôm không hàn và bằng thép hàn: ISO 6404, ISO 10461 và TCVN 6294.

C.2. Các khuyết tật về vật lý hoặc vật liệu

Việc đánh giá các khuyết tật về vật lý hoặc vật liệu trong chai phải phù hợp với Bảng C.1.

Các phụ tùng cố định (ví dụ, các vòng chân và nắp bảo vệ) phải được kiểm tra và phải thích hợp với mục đích sử dụng.

C.3. Sự ăn mòn

C.3.1. Quy định chung

Chai có thể chịu được các điều kiện môi trường gây ra ăn mòn bên ngoài của kim loại.

Cần có kinh nghiệm sâu rộng và có suy xét trong việc đánh giá các chai đã bị ăn mòn bên trong còn an toàn và thích hợp cho việc đưa vào sử dụng nữa hay không. Bề mặt của kim loại phải được làm sạch gỉ (vết ăn mòn) trước khi kiểm tra chai.

Bảng C.1 – Các giới hạn loại bỏ liên quan tới các khuyết tật về vật lý và vật liệu trong vỏ chai

Loại khuyết tậtĐịnh nghĩaGiới hạn loại bỏ theo Điều 6aSửa chữa hoặc không sử dụng được nữa
Chỗ lồi (phình) raSự phồng ra nhìn thấy được của chai.Tất cả các chai có khuyết tật như vậy.Không sử dụng được nữa.
Vết lõmVết ấn lõm vào chai chưa ăn sâu vào hoặc chưa lấy đi kim loại để tạo ra độ sâu lớn hơn 1 % đường kính ngoài của chai.Khi độ sâu của vết lõm vượt quá 3 % đường kính ngoài của chai:

hoặc

Không sử dụng được nữa.
Khi đường kính vết lõm nhỏ hơn 15 lần độ sâu của nó.Không sử dụng được nữa.
Vết cắt hoặc vết đụcRãnh ở đó kim loại đã được lấy đi hoặc được phân bố lại và độ sâu của nó vượt quá 5 % chiều dầy thành chai.Đối với vỏ chai bằng thép không hàn hoặc vỏ chai hợp kim nhôm không hàn:

Khi độ sâu của vết cắt hoặc vết đục vuợt quá 15 % chiều dầy thành chai;

hoặc

Khi chiều dài của vết cắt hoặc vết đục vượt quá 25 % đường kính ngoài của chai.

Đối với vỏ chai bằng thép hàn:

Khi độ sâu của vết cắt hoặc vết đục vượt quá 10 % chiều dầy thành chai;

hoặc

Khi chiều dài của vết cắt hoặc vết đục vượt quá 25 % đường kính ngoài của chai.

Có thể sửa chữa b.
Vết nứtVết tách ra hoặc khe rãnh trong kim loại.Tất cả các chai có khuyết tật như vậy.Không sử dụng được nữa.
Hư hỏng do cháySự đốt nóng chai hoặc bộ phận của chai quá mức thường dẫn đến:

a) Làm nóng chảy một phần chai;

b) Làm biến dạng chai;

c) Đốt thành than hoặc đốt cháy lớp sơn;

d) Đốt cháy gây hư hỏng van, làm nóng chảy bộ phận bảo vệ bằng chất dẻo hoặc vòng ghi ngày kiểm tra hoặc đinh chảy nếu được lắp.

Tất cả các chai thuộc loại a) và b).

Tất cả các chai thuộc các loại c) và d) có thể được chấp nhận sau khi kiểm tra và thử.

Không sử dụng được nữa.

Có thể sửa chữa. Trong trường hợp còn nghi ngờ thì không sử dụng nữa.

Ngọn lửa tạt lạiSự bốc cháy của axetylen trong chai.Tất cả các chai có khuyết tật như vậy.Không sử dụng được nữa.
Đệm bít kín hoặc đệm cổCác đệm bổ sung được lắp trong cổ chai hoặc đáy chai.Tất cả các chai trừ khi có thể xác định rõ rằng sự bổ sung này là một phần của kết cấu chai đã được chấp thuận.Có thể sửa chữa.
Dập dấuGhi nhãn (dấu) bằng mũi đột kim loai.Tất cả các chai có nhãn không đọc được hoặc không đúng (xem 6.4).Không sử dụng được nữa c.
Vết cháy đo hồ quang hoặc đèn hànLàm nóng chảy một bộ phận của chai, bổ sung thêm kim loại hàn hoặc tẩy bỏ kim loại bằng mỏ hàn.Tất cả các chai có khuyết tật như vậy.Không sử dụng được nữa.
Dấu hiệu nghi ngờDấu hiệu được tạo ra khác với dấu do quá trình chế tạo và sửa chữa chai đã được chấp thuận.Tất cả các chai có khuyết tật như vậy.Có thể sử dụng tiếp tục sau khi đã kiểm tra bổ sung.
a Khi áp dụng các chuẩn loại bỏ phải xem xét các điều kiện sử dụng chai, tính nghiêm trọng của các khuyết tật và các hệ số an toàn trong thiết kế.

b Có thể sửa chữa với điều kiện là sau khi sửa chữa bằng công nghệ loại bỏ đi lớp kim loại thích hợp thì chiều dầy còn lại của thành chai tối thiểu phải bằng chiều dầy thành nhỏ nhất được bảo đảm.

c Nếu có thể xác minh được rõ rằng chai hoàn toàn tuân theo các đặc tính kỹ thuật thì các nhãn (dấu) hiệu về vận hành đã thay đổi và sửa đổi có thể được chấp nhận và các nhãn (dấu) hiệu không thích hợp có thể được sửa chữa với điều kiện là không có khả năng xảy ra sự nhầm lẫn.

Xem lại: Chai chứa khí – chai chứa khí axetylen hòa tan vận chuyển được – kiểm tra và bảo dưỡng định kỳ – phần 1

Xem tiếp: Chai chứa khí – chai chứa khí axetylen hòa tan vận chuyển được – kiểm tra và bảo dưỡng định kỳ – phần 3

Tin tức Related
Mở Chat
1
Close chat
Xin chào! Cảm ơn bạn đã ghé thăm website. Hãy nhấn nút Bắt đầu để được trò chuyện với nhân viên hỗ trợ.

Bắt đầu

error: Content is protected !!
Click để liên hệ